Chữ viết tiếng việt
Bùi Ngọc Sánh (19052005)
Chữ viết là một công cụ sắc bén toàn năng; có lửa, có trống đồng mà không có chữ, chưa chắc gì nhân dân ta tiến tới mức độ văn hoá văn minh ngày nay.
Tiếng nói, chữ viết là của cải, là vốn quí vô cùng lâu đời của dân tộc; gìn giữ, fát huy bản sắc và sự trong sáng của tiếng nói, chữ viết là ngĩa vụ.
Xin bạn đọc lưu í:
Lược sữ chữ viết tiếng việt (cvtv) ghi đây không nên coi là một tài liệu có sưu tầm, ngiên cứu mà nên coi nó là một bản ghi nhớ những suy luận riêng tư về cvtv, con người và xã hội khi đọc lại quyển Việt-Nam Sử-Lược của Trần Trong-Kim (soạn năm 1928) để tìm lại từng bước đi của chữ viết tiếng mẹ từ lúc mới có cho đến ngày nay. Viết đây cũng chỉ để thoả thích cái mơ ước của tuổi mười lăm mà đến nay vẫn còn vương vấn.
Ghi nhớ xong lại sực nhớ tới lớp con em vào lứa tuổi mình thưở nọ, cũng tò mò muốn biết mà chưa biết tìm đâu, nên tôi có sửa chữa đôi chút cho thêm sạch sẽ, sáng sủa, dễ đọc cho lớp con em có sẵn, khỏi bỏ công tìm kiếm xa xôi.
Mục lục:
Lời mở đầu
1 - Công đức ngàn xưa
11 - Thời thuộc Bắc (- 207 - 938): chữ hán, chữ nho
12 - Thời fong kiến tự chủ (939 - 1882): Chữ hán, chữ nho, chữ nôm
13 - Thời thuộc Tây (1882 - 1920 - 1945): chữ nho, chữ nôm, chữ quốc ngữ
14 - Thời cộng hoà tự chủ (1945 tới ngày nay: chữ nho, chữ quốc ngữ)
15 - Fụ lục
2 - Thống nhất chữ viết tiếng việt (tncvtv)
21 - Đại cương
22 - Điều trần
23 - Thống nhất nơi bỏ dấu giọng
24 - Thống nhất cách nói đọc viết dùng
3 - Chữ việt
31 - Tạo chữ cái
32 - Tạo vần
33 - Tạo từ 4 - Linh tinh
41 - Chính tả
42 - Dấu chữ vần từ ngoại để fiên âm mượn nhập tiếng nước ngoài, ...
Kết luận
Lời mở đầu
'Bốn ngàn năm văn hiến, nước non khang cường là nhờ công đức ngàn xưa'! Có lửa, có trống đồng sử sách đều có ghi, còn chữ viết có tự bao giờ và hình dạng nó ra sao thì chưa có đâu ghi để đúng đắn, rõ ràng!
Bốn ngàn năm văn hiến, hai lần mất nước, hai lần nô lệ lầm than khổ nhục, cũng là hai lần tiếp xúc, trao đổi, chung đụng với hai luồng văn hoá văn minh Á Âu tâm tiếng, mỗi luồng đem lại cho dân tộc ta một hệ chữ viết. Gẫm lại dân tộc ta thật giàu về chữ viết! 2212 năm, 4 hệ (hán, nho, nôm và quốc ngữ) thuộc loại khác nhau, ghi í có, ghi âm có, dạng và cách cấu tạo từ cũng khác nhau. Giàu mà ngèo! Ngèo vì đến giờ fút này dân tộc ta, đông người, nhiều bộ tộc (26/54 đã có chữ viết riêng) vẫn chưa có được một hệ chữ nào gọi là chuẩn, đúng đắn, giản tiện, hợp lí, hợp thời, có đầy đủ qui tắc và lệ luật để thống nhất nơi bỏ dấu giọng và cách nói đọc viết dùng chính thức trăm dân như một.
Đất nước đã là một! Dân tộc cũng đã là một! Về mặt giao tiếp, truyền thông hay hành chánh, giảng dạy, trong nước cũng như ngoài nước, thiết ngĩ Chữ viết cũng fải là một, ít ra cũng từ hai ba chục năm nay!
Cải lương, tu chính, thống nhất chữ viết để nâng cao uy tín, bảo toàn thanh danh thể thống, quốc hồn quốc tuý của nhân dân đất Việt âu là fải lúc!
Là 'người ngoại đạo', ngôn ngữ không, lịch sử cũng kém, văn chương chữ ngĩa càng xoàng, nhưng nhờ có cái quyết tâm, cần cù học hỏi, tìm tòi để hiểu biết tại sao, làm thế nào để hoàn thành nhiệm vụ công dân nên mạo muội đề ra đề án này để cùng bà con bạn bè thân thương ruột thịt, đoàn kết và hợp tác xây nên một hệ chữ việt thích thời hợp thế làm gốc thế cho chữ quốc ngữ để vững bước vươn lên.
1 - Công đức ngàn xưa
Trước khi Triệu Đà sang đánh An dương vương, chiếm đất Âu lạc và thôn tín dân tộc ta thì không có sách sử nào cho biết một cách chính xác nhân dân đã có một thứ chữ viết nào chưa ngoài những nét chạm trổ tuyệt vời trên mặt chiếc trống đồng thời Đông sơn.
11 - Thời thuộc Bắc (207 tcn - 938): chữ hán, chữ nho
Khi Triệu Đà sang đánh An dương vương thì nhà Tần đã suy, nhà Hán sắp lên, nước Tàu (gọi theo sách sử xưa) đang vào thời loạn, xã hội có nhiều biến đổi. Triệu Đà là người Tàu, quan tướng nhà Tần, khi hạ được An dương vương (năm 207 tcn (trước công nguyên)), chiếm lấy đất Âu lạc, sát nhập cùng các quận fương nam vào quận Nam hải, lập thành một nước tự chủ, tên gọi là Nam việt, tự xưng vương, tức Triệu Vũ vương. Triệu Vũ vương bèn đem chính trị, fáp luật, văn hoá, văn minh nước Tàu sang áp dụng và truyền bá ở đất Nam mà chủ iếu và ưu tiên là chữ viết gọi là chữ hán. Chủ iếu, ưu tiên là vì bọn xâm lăng cướp nước, thời nào cũng như thời nấy, lúc nào cũng cần dân bản xứ biết viết biết đọc để làm tay sai giúp chúng trong việc quản lí, hành chánh để khai thác, vơ vét tài nguyên thổ sản; dân nô lệ cũng rất cần, rất cần để học hỏi trau giồi, để vừa có fương kế sinh nhai, vừa mở rộng hiểu biết hòng mưu đồ ngày quật khởi.
111 - Chữ hán
Mới biết có chữ mà fải học chữ của tiếng nước ngoài, một thứ chữ khó học, khó viết, khó nhớ, khó dùng, không chỉ học viết, học đọc, học nói mà còn fải học cả ngĩa và cách dùng, lại càng thêm khó.
Viết thì theo hàng dọc, từ trên xuống và từ mặt qua trái; mỗi từ viết trong một ô vuông, đều đặn bằng nhau, dọc ngang ngay ngắn; nét lại rất nhiều (có từ có đến hơn 30 nét), mỗi nét là một nét vẽ (tất cả có 22 nét mẫu khác nhau), ngang bằng sổ ngay, đá ra đá, fết ra fết, chấm ra chấm; vẽ từ cũng fải theo thứ tự, ngang trước sổ sau, trên trước dưới sau, ngoài trước trong sau; cấu tạo từ cũng không đơn giản, có sáu cách: tượng hình, hội í, hình (hài) thanh, chỉ thị, chuyển chú, giả tá.
Nói tiếng mẹ đúng âm đúng giọng đã là khó, đằng này mới biết có chữ viết mà ông cha ta lại fải học tiếng nước ngoài, thì dù cho tai có thính để nge rõ từng âm từng giọng, môi miệng có mềm mại, lưỡi có dẻo dai để lập đi lập lại cũng không sao tránh khỏi xê trại; xê trại mà lại thiếu điều kiện fương tiện nge nhìn để luyện tập trau giồi cách fát âm như thời bây giờ, thì fát âm không dễ gì đúng mực. Cũng may, từ hán thuộc loại ghi í, ghi ngĩa, í ngĩa nào từ nấy, từ nào í ngĩa nấy gần như cố định, còn âm thì có fần dễ dãi hơn, bập bẹ nge được hiểu được là được, cho nên dân ta cũng như các dân tộc thành viên của nước Tàu, tự tiện đặt âm lấy mà dùng miễn là giữ đúng qui tắc và lệ luật, í nào từ nấy của chữ hán và í từ nào cũng âm giọng nấy một khi đã qui định.
112 - Chữ nho
Chính cái xí xoá, dễ dãi trong cách fát âm này nó khuyến khích và thúc đẩy ông cha ta ra công lựa lấy một trong những âm đọc đúng hoặc xê trại đôi chút của mỗi từ hán (có độ ba bảy ngàn từ) để thế âm giọng hán, để thống nhất âm đọc và tạo cho ta một hệ tiếng nói mới, tiếng hay chữ nho (hán việt ngày nay) để ta nói, ta đọc, ta nge, ta hiểu, mà người Tàu, không biết chữ nho, dù có nge cũng không sao hiểu nổi; còn viết thì ta tàu đều viết như nhau.
Âm đã đổi nhưng chữ nho, cũng như chữ hán, chưa fải là chữ viết của tiếng mẹ của ta vì vẫn còn fải dịch ra tiếng nho trước khi viết và dịch trả lại sau khi đọc; dịch tất fải cẩn thận vì ngữ fáp ta tàu có khác: thiên tử mà dịch trời con là mang hại!
Chữ nho có từ lúc nào và do ai tạo?
Nhà viết sử thường cho rằng nước ta có văn học là khởi đầu từ thời thái thú Sĩ Nhiếp (187-226), bốn năm trăm năm sau ngày mất nước lần thứ nhất. Í này có fần sai vì trước đó đôi mươi năm đất Giao chỉ đã có người học cao được bổ làm quan như người Tàu, thí dụ: Lý Tiến làm thứ sử ở đất Giao chỉ, Lý Cầm làm lính túc vệ hầu vua trong điện sau lên đến quan Tư lệ Hiệu uý, Trưng Trọng làm thái thú ở Kim thành ....
Chữ nho (chữ hán âm việt hay chữ hán việt) do nhân dân ta tạo là lẽ dĩ nhiên! Nhưng cũng đừng quá tự fụ mà quên tự hỏi: Sĩ Nhiếp có giúp gì trong việc tạo dựng chữ nho chăng? Có lẽ là có, ông là một quan thái thú có tài, có đức, trị dân có fép tắc, chăm lo dạy bảo dân, được lòng dân, người người cảm mộ công đức nên gọi tôn ông là Sĩ vương (có đền và mộ ông ở làng Tam á gần bên làng Lũng khê thuộc fủ Thuận thành bây giờ); hơn nữa lúc thiếu thời ông lại có sống ở đất nước ta khi cha ông, là Sĩ Tứ, làm thái thú quận Nhật nam, có thể ông có biết tiếng việt và có cảm tình với dân ta nên có ít nhiều giúp đỡ!
Tóm lại, dưới thời thuộc Bắc, ông cha ta đã đổi âm chữ hán ra âm việt, tạo nên bộ từ nho hay hán việt; giới trí thức, thông thiên văn thạo địa lí, cũng ra đời vào thời ấy. Fúc lớn cho nhân dân ta là hơn ngàn năm chung đụng với nền văn hoá văn minh, tập tục tập quán và cã nếp sống, lại còn dùng chung một thứ chữ của người Tàu, mà đất nước ta không bị sáp nhập, dân tộc ta không bị đồng hoá, công đức ngàn xưa quả thật cao dày! Đời đời ghi nhớ công ơn!
Tự hỏi: Lối đổi âm giọng hán ra việt qua dễ dàng và thiếu lệ luật này liệu có gây trở ngại gì cho thời cháu con ?
12 - Thời fong kiến tự chủ (938-1882): chữ nho, chữ nôm
Chữ nho là chữ viết chính thức dùng suốt hai ngàn năm, 1000 năm dưới thời thuộc Bắc và 1000 dưới các triều đại fong kiến tự chủ, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, cho đến ngày mất nước lần thứ hai, thuộc Fáp. Chữ nôm chính thức được dùng chỉ có 8 năm dưới thời nhà Hồ (1400-1408) và 14 năm dưới thời vua Quang Trung Nguyễn Huệ (1788-1802).
Chữ nôm có tự bao giờ và do ai tạo? - Ta tạo là dĩ nhiên, còn tự bao giờ thì chỉ biết vào đầu thế kỉ 11.
Sách sử có ghi, vào đầu thiên niên kỉ II, độ trăm năm sau trận Bạch đằng (938), dưới thời nhà Lý (1010 - ...) văn hoá mở mang hưng thịnh. Trong lúc vua quan mộ đạo sùng nho, sang Tàu thỉnh kinh Fật, đắp tượng thờ Khổng tử, xây đền chùa, dựng Văn miếu, lập viện Hàn lâm, mở khoa thi (chữ nho), bổ nhiệm hiền tài, lại có một số nhà nho, yêu thương đúng mực tiếng mẹ, tự tiện tìm tòi sáng tạo chữ nôm, hệ chữ đầu tiên viết được tiếng mẹ khỏi fải dịch trước khi viết hay sau khi đọc như hán hay nho, công đức cao dày này muôn thuở khắc ghi!
Chữ nôm ra đời vào đầu đời nhà Lý; đến đời vua Trần Nhân Tôn (1279-1293), quan Hình bộ thượng thư Nguyễn Thuyên (Hàn Thuyên) có dùng chữ nôm làm thơ fú nhưng chỉ dùng chính thức làm chữ viết tiếng của nhân dân đất Việt dưới đời nhà Hồ và triều đại vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
Chữ nôm là chữ viết tiếng việt đầu tiên trong lịch sử chữ viết tiếng việt. Chữ nôm thuộc loại 'ghi âm', âm nào từ nấy, từ nào âm nấy, nói sao viết vậy, viết sao đọc vậy, nói đọc là tiếng mẹ, hiểu nhau khỏi fải dịch, trừ những từ nho ít dùng thường. Bộ từ nôm gồm có một số từ nho (hán chính cống) và một số từ nôm gép thành bởi một từ nho với hoặc một từ nho khác, hoặc với một số nét (hán là chính) để tạo thành từ nôm để ghi âm tiếng mẹ, thí dụ : từ nôm = bộ khẩu + âm nam
Chữ nho đã khó học khó viết, chữ nôm cấu tạo cũng nhiều theo lối hán càng khó hơn gấp bội, hao công tốn của fí thì giờ, cho nên ngoài cái tánh sùng ngoại bài nội, bên trọng bên khinh, một bên của thánh hiền, của giới quan trường, giới bác học, giới trí thức hủ nho, một bên nôm na dân dã bởi thế chữ nôm không sao thế được chữ nho cũng có fần có lí. Giả sử như ông cha ta táo bạo, đổi hẳn dạng chữ hán theo lối đổi của Triều tiên hay Nhật bản thì ai nào biết được nhân dân việt ngày nay sẽ ra sao ?!
Tuy rằng không chính thức thế được chữ nho với giới quan trường, chữ nôm vẫn là một công trình cao cả được yêu chuộng và thông dụng trong quần chúng nhân dân nên con cháu Rồng Tiên mới giữ được văn hoá đến ngày nay. Có tranh giành ngôi thứ, nhưng hai hệ vẫn được dùng, hệ nào fạm vi nấy, cho đến ngày mất nước lần thứ hai, bị Fáp đánh chiếm và cả hai đều bị loại.
Giới trí thức rẽ fân hai fái : fái nho fần đông thuộc giới quang trường và fái nôm đa số bình dân hơn.
13 - Thời thuộc Tây (1882 - 1945): chữ nho, chữ nôm, chữ quốc ngữ
Một lần nữa cũng fải mất nước mới có hệ chữ viết gọi là quốc ngữ do người nước ngoài tạo đặt cho !
Chữ quốc ngữ chẳng qua là chữ nôm đổi dạng, lấy dạng latin thế dạng hán nôm, âm đọc vẫn giữ (tựa như quan thoại với pinyin của Trung Quốc ngày nay); cả hai đều là chữ viết tiếng việt lấy lối ghi âm làm gốc.
Cuối thế kỉ 16, một số giáo sĩ Tây Âu (Bồ đào nha, Fáp, Í, I fa nho (?)) bắt đầu tới đất nước ta để truyền bá đạo thiên chúa. Đến nơi nào họ cũng cố học và dạy nhau học tiếng của dân tộc nơi ấy để giảng đạo trực tiếp cho tiện, hiệu quả cho nhanh. Đối với họ tiếng ta học rất khó, âm điệu quá nhiều, chữ viết lại fải học cả nho lẫn nôm, mà họ lại muốn học nhanh, cho nên họ lấy chữ viết tiếng của họ để fiên âm tiếng việt để học cho tiện. Nhờ có tổ chức và mục đích, nhờ biết hợp tác, fối hợp và dung hoà và nhờ có bốn hệ chữ khác nhau lại cùng dạng gốc latin, cho nên việc chọn chữ được dễ dàng, hệ chữ ghi âm tiếng việt sớm được thành hình và đem ra áp dụng, trước là trong giới đạo, sau lại, vì giản tiện và lợi ích hiển nhiên, lan dần ra ngoài đạo. Đến giữa thế kỉ 17 bộ từ điển Việt-Bồ-Latin ra đời.
Cuối thế kỉ 19, khi đánh lấy trọn sáu tỉnh Nam kỳ, Chính quyền thực dân Fáp có kí ngị định (1882) bắt buộc dùng chữ quốc ngữ trong việc hành chính và giảng dạy. Báo củng ra đời dưới dạng chữ latin.
Dưới thời thuộc Fáp, không có thay đổi nào đáng kể mặc dù có nhiều lần hội họp để canh tân cải tiến. Năm 1906, Hội
đồng cải lương học chính Đông dương có họp nhưng chỉ định được một qui tắc là nơi đặt dấu giọng trên hoặc dưới nguyên âm nhấn giọng cần fải triệt để tuân theo. Định qui tắc mà không chỉ rõ nguyên
âm nhấn giọng là nguyên âm nào trong từ cho nên đến giờ fút nầy dấu giọng bỏ
vẫn còn loạn.
Ngoài chính quyền, í kiến của nhân dân có thừa, nhưng tinh thần đoàn kết và hợp tác xây dựng có fần iếu kém nên chẳng có một thay đổi cụ thể nào đáng ghi ngoài quyển "Dường Kách mệnh" (1925) của Hồ Chí Minh viết với một số chữ mới; trọn đời Người đã theo dõi và soi đường đổi mới chữ quốc ngữ cho lớp con em, nhưng lớp con em ngày nay, nằm lòng tư tưởng của Người, nhưng chẳng có một ai nối ngiệp!!!
14 - Thời cộng hoà tự chủ : 1945 đến ngày nay
1945-1975, ba mươi năm đấu tranh gian khổ giành độc lập tự do, chữ viết tiếng việt vẫn là vấn đề sôi nổi. Tháng 09 năm 1960, tại Hà nội có tổ chức hội ngị về vấn đề cải tiến chữ quốc ngữ nhưng chẳng đi đến đâu, mặc dù Đề cương Cách mạng tháng 8 có ghi. Vả lại lúc đó đất nước còn chia cắt hai miền nên Chủ tịch Hồ Chí Minh có khuyên đợi Hoà bình Thống nhất rồi, Bắc Nam một nhà cùng làm chung cho fải lẽ.
1975 đất nước được hoàn toàn giải fóng cũng có những cuộc hội họp, nhưng cũng chẳng có được gì thêm gọi là cụ thể. Chữ h trong nghe ngóng nghỉ ngơi vẫn còn đứng sừng sững, hiên ngang, ngạo ngễ, bỏ được, không hại mà các bậc cao học nhà ta không mấy ai chịu bỏ ; trớ trêu là 'thầy' bảo không là 'trò' vâng dạ, không mấy ai hở môi ngỏ í ! Dạng là như thế, còn âm thì trái hẳn. Fát âm sai, có hại, một dạng hai ba âm, không ai một lời khuyên giải cản ngăn cấm đoán mà còn ùa theo bắt chước ! Sáng chưa mở mắt là truyền thanh truyền hình đã inh ỏi, s x, ch tr, r d g gi,... hết còn fân biệt. Đã vậy mà một giáo sư tiến sĩ ngôn ngữ học còn viết sách dạy người nước ngoài học tiếng việt trong hai tháng (xuất bản năm 1977), dạy đọc tr (tre) như ch (change) mà không như tr (trade hay tree) của tiếng Anh. Hẳn là ta đã fá kỉ lục kỉ cương, thế giới này có mấy đài fát thanh sai trại như các đài ta ?
Càng nge, càng ngĩ, càng ngao ngán cho cái thói đời ! Trái ngang ngạo mạn đến thế là cùng ! Theo đà này bản sắc và sự trong sáng của tiếng nói, chữ viết tiếng việt khó mong có ngày sáng chói!
Giữa năm 95, sau hai mươi năm kiên nhẫn đợi chờ, có kiến ngị đệ trình yêu cầu đổi mới cách viết chữ quốc ngữ. Có vận động van xin, báo chí có đăng, Lãnh đạo Chính quyền và hầu hết các giới thẩm quyền đều có biết, trước ngày Đại hội X cũng có thư trình, Tổng bí thư Đảng cũng có gặp (06-06-05), nhưng ước mơ, đến ngày nay, vẫn còn trong mơ ước và chừng như nge đâu có tin rằng ''Chưa đến lúc cần fải sửa đổi'' !
Dù cho có sửa đổi cũng fải chuẩn bị sẵn sàng để đuong đầu với số người bảo thủ chống đối, hán, nho, nôm và quốc ngữ !
Kết luận
Không sưu tầm, không ngiên cứu chỉ theo sách sử suy lí mà luận để viết sơ bấy nhiêu dòng mong giúp lớp cháu con nhận ra cội nguồn của chữ viết tiếng mẹ, đâu là công đức ngàn xưa, thế nào là gìn giữ và fát huy bản sắc và sự trong sáng của tiếng nói và chữ viết tiếng mẹ để xứng mặt với đấng cha ông.
Fụ lục
Tiếp đây là những suy ngẫm riêng tư và những học hỏi qua công việc tìm hiểu chữ viết tiếng việt về con người và xã hội.
F1 - Về chữ viết
Chữ viết, cũng như tiếng nói, có là do sự cần dùng trong cuộc sống, nên hình là do qui ước, bền lâu là do thông dụng và lâu ngày trở thành thói quen.
Trước khi đi vào suy lí, luận bàn xin nhắc lại căn nguyên, lệ luật, qui ước đã thoả thuận lâu nay.
F11 - Đôi điều cần nhắc nhở
i - Về vẽ
Vẽ là kẻ, là vạch, là ghi hình dạng của một vật thể có hình dạng, thấy được hoặc trước mắt hoặc còn trong tâm não, trong một khoảng khắc thời gian nhất định.
ii - Về viết
Viết cũng là vẽ, mà vẽ lại cái hình dạng biểu tượng cho một vật thể có hay không có hình dạng, có thể chỉ nge mà không thấy; vật thể ấy là âm thanh, là tiếng nói đã hoá ra hình theo qui ước mà từ là biểu tượng. Hay nói cách khác : viết là tạo cho âm thanh tiếng nói, vật thể không hình dạng có một hình dạng dễ ghi, dễ học, dễ nhớ để ghi, để học, để nhớ, để lưu truyền đi khắp nơi nơi, đời nọ sang đời kia, trong khoảng không gian và thời gian vô định mà từ là biểu tượng.
iii - Về chữ viết
- Chữ viết có 3 fần: fần âm (nge) và fần dạng (thấy), hai fần này họp lại chỉ định fần thứ ba là ngĩa.
Dạng chữ chỉ là một nét vẽ thô sơ, không í ngĩa, vô dụng nếu mỗi dân tộc không đặt cho nó một cái tên, tên đây là âm nge, để nó thành chữ để thấy; chữ fải giản tiện và hợp lí, ráp gép giữa nhau được dễ dàng để thành từ mà, tuỳ loại chữ ghi í hay ghi âm, nét hay chữ, bộ hay vần là đơn vị và thành fần cấu tạo từ.
- Trong loại chữ ghi í, mỗi í ngĩa là một từ, mỗi từ là một dạng (với một số nét nhất định), mỗi dạng là một âm thanh, âm thanh này tuỳ mỗi dân tộc đặt cho, í nào dạng nấy, í dạng nào âm thanh nấy là qui ước.
- Trong loại chữ ghi âm, mỗi âm thanh là một từ, mỗi từ là một dạng do một số vần, và mỗi vần do một chữ cái ráp thành, mỗi dạng chỉ định một hoặc hơn một ngĩa, tuỳ qui ước của mỗi dân tộc đặt cho.
Chữ viết chỉ có bấy nhiêu, không có gì là cao siêu hay thần thánh, siêu fàm hay siêu việt đến fải sùng bái, tôn thờ đến không dám ngĩ, không dám nói, không dám đổi thay. Không dám hay thờ ơ bỏ mặc, không cải lương tu chính mà còn chống đổi là không fải đạo làm người !
F12 - Chữ việt : lệ luật và qui tắc
i - Về dấu giọng (hay dấu từ ):
Nguyên lí là : Âm đâu dấu đó, giọng đọc nge nơi nào, dấu giọng (huyền, sắc, hỏ, ngã, nặng) triệt để fải đặt trên hoặc dưới nguyên âm (nâ) nơi nấy. Nơi nấy là nơi của nâ ghi dấu trong âm tàn của từ. Âm tàn là âm gần đến độ cuối, nge như còn nuối lại trong tai khi âm fát tắt.
ii - Về chữ (chữ dùng đây là chữ cái, chữ con hay con chữ, có hay không có dấu (dấu chữ hay dấu âm), đơn hay kép):
Âm nào chữ nấy, một đối một là lí tưởng: một âm một dạng, một dạng một con chữ, một con chữ một âm, triệt để fải tuân, không thay âm đổi dạng bừa bãi.
iii - Thay âm đổi dạng triệt để fải tuân theo lệ luật qui định và tuỳ loại từ ghi í hay ghi âm.
F13 -Tinh thần và lề lối làm việc
i - Lề lối
Là xem lại toàn bộ, xét lại toàn diện chữ viết hiện giờ coi còn những gì cần fải sửa sang tu chính để lập bản tổng kê, vạch kế hoạch, khả thi và chương trình để giải quyết toàn bộ một lần, không đổi lắt nhắt, mỗi năm mỗi đổi, mỗi lần mỗi cách, để tránh làm xôn xao dư luận, náo động lòng dân, mất đi uy tín.
ii - Tinh thần
Là công trình xây dựng quốc gia hệ trọng, là lợi ích của toàn dân, toàn dân làm toàn dân hưởng mà Nhà nước và Nhân dân cùng làm là thượng sách; đoàn kết xây dựng, hợp tác khoa học đặt trên tình người là tất iếu. Người kính trọng người, công bằng, bình đẳng, bình quyền, không bên trọng bên khinh, không óc địa fương ích kỉ, không tinh thần quốc gia hẹp hòi là trọng; thật thà khiêm tốn, bình dân giản dị trong cư xử, lời văn, tiếng nói là cần để dễ gây cảm tình, dễ lôi cuốn quần chúng hưởng ứng và tham gia góp í.
iii - Kỉ luật kỉ cương
Tuyệt đối fải tôn trọng kỉ luật kỉ cương mới mong gìn giữ, fát huy được bản sắc và sự trong sáng của tiếng nói, chữ viết tiếng việt.
F2 - Chữ viết, con người và xã hội
F21 - Đời !
Tự hỏi: Tại sao một đất nước như đất nước ta, tương đối giàu, ruộng đất fì nhiêu, rừng vàng biển bạc; một dân tộc, như dân tộc ta, chinh Nam, kháng Bắc hơn cả ngàn năm, kiên cường bất khuất, không đầu fục, không bị đồng hoá, không bị sát nhập; một dân tộc tương đối thông minh, lại thêm cần cù, tháo vát, khéo tay, cũng sống qua bốn ngàn năm văn hiến như ai mà ngày nay chỉ vỏn vẹn có ngần này là di sản lịch sử?
Có fải: Tại sợ người hơn mình rồi mất quyền mất lợi, mất ngôi mất thứ mà không dám dùng người, bỏ rơi tài hiền, tinh hoa, chất xám; hoặc có dùng mà không dùng đúng chỗ đúng nơi, đúng thời đúng lúc; hay tại sùng ngoại bài nội, mới được bằng người đã là tự mãn, tự fụ, tự kiêu, không lo tìm tòi ngiên cứu, không đoàn kết xây dựng, không hợp tác khoa học để vươn vụt hơn người; mới bằng người đã cho rằng giỏi, mới làm tưởng biết, mới biết tưởng sành, chưa tinh đã xảo rồi đâm lo an nhàn hưởng lạc, "đăng cao sơn, vọng viễn hải, ẩm thần tửu, cận mĩ nhân" để cho Nước nhà hoá ra nông nỗi?
Đây là chưa kễ vấn đề Quốc hồn Quốc tuý của Đất nước, Thanh danh Fẩm giá của Dân tộc, Thể diện Thể thống của các vị Tài cán Thẩm quyền.
F22 - Thống nhất chữ viết tiếng việt
Đã trên bốn trăm tuổi đời, đã trên trăm năm tuổi việt, suốt cả ba thời, thời Đạo (Thiên chúa), thời Tây (thuộc địa), thời Việt (cộng hoà tự chủ) với hơn ba mươi năm hoà bình thịnh vượn, chữ quốc ngữ vẫn chưa có chút cải cách, sửa sang, tu chính nào cho chữ viết thêm giản tiện và hợp lí, đầy đủ và đúng đắn, có qui tắc và lệ luật, chính thức chuẩn và thống nhất nơi bỏ dấu giọng và cách nói đọc viết dùng.
Ông cha ta đã bao lần thất bại, chữ viết của Bác Hồ chỉ giáo cũng dở dang, thống nhất nơi bỏ dấu giọng và cách nói đọc viết dùng đệ trình gần mười lăm năm nay cũng chẳng chút tăm hơi. Tại sao và vì lí do gì?
Cấp trên kêu gọi đóng góp chất xám tay ngề, dân dưới trình lên nguyên lí"dấu giọng triệt để fải bỏ trên/dưới nguyên âm nhấn giọng trong âm tàn của từ", thực hiện chỉ cần một công văn cho toà xoạn các nhà xuất bản, in ấn sách báo áp dụng là nơi bỏ dấu giọng đi vào nề nếp, dễ như trở bàn tay, khỏi đợi fê chuẩn!
Chỉ có so đọ và lựa chọn giữa nguyên lí này với lối bỏ dấu giọng theo mẹo, theo lí luận cầu kì, khó hiểu của các nhà chuyên môn cao cấp hay theo lối thẩm mĩ, cân đối, thuận mắt mà mất non 500 năm vẫn chưa thành!!!
Thấy, nói, thì ai ai cũng thấy, cũng nói, nhưng khi việc tới fải làm thì tìm đủ lí do để lánh né, tránh tham dự, fó thác bỏ liều.
F23 - Đổi chữ viết
Mất nước hai lần, mỗi lần là mỗi lãnh một hệ chữ mới do người tạo sẵn đặt cho, giới trí thức cũng nảy sanh kì thị, fân rẽ fe fái (quan trường dân dã, nho nôm, quốc ngữ, bảo thủ hủ nho) chẳng đem lại một cải tiến canh tân nào cho cụ thể và thiết thực, thống nhất lại càng không. Hai lần Giải fóng dân tộc, giành lại Độc lập, Tự do, Tự chủ, chỉ có lần đầu là có toan lo thống nhất, có tạo dựng chữ nôm, nhưng nho nôm sống luôn chia rẽ cho nên sự việc không thành. Ngàn năm sau, nho nôm cả hai đều bị loại, chữ quốc ngữ được người đặt ra thay thế, nhưng mãi đến nay cũng vẫn chưa có gì để gọi là hoàn chỉnh: nơi bỏ dấu giọng mãi còn loạn xị, nói đọc viết dùng vẫn còn thay âm đổi dạng lung tung; chữ thì thiếu qui tắc lệ luật, người thì thiếu kỉ luật kỉ cương, mà dù cho có, cũng chưa chắc có được mấy ai tuân thủ.
Đổi mới là cấp thiết!
F24 - Đổi đời
Chữ viết là một công cụ sản xuất mới, lại thêm sắc bén toàn năng thì ai lại chẳng muốn chẳng ham có, ham chiếm giữ để sản xuất, vụ lợi và chính nhờ ham muốn đó mà xã hội loài người mạnh bước tiến lên! ...
Nay tư bề rạn nứt, tường Bẹclin sụp đỗ, Liên xô tan rã chỉ còn có Nga, cộng sản cũng không còn là một khối, tư bản cũng đến bước đường cùng, đang tìm fương cứu chữa. Chính đây là cơ hội để loài người suy ngẫm, thay lốt đổi đời! Đổi thay sao cho Đất mẹ nuôi người không bị vỡ tan, không chìm trong ô nhiễm; fân công chia lợi nhuận thế nào cho người người sống ấm no an vui lành mạnh trong một xã hội an hoà, đạo lí, nhân ngĩa, công bằng, bình đẳng, bình quyền, không còn mạnh hiếp iếu, người bóc lột người.
Đoàn kết xây dựng, hợp tác khoa học, góp sức đổi đời sao cho đúng hướng là fải lúc!
Kết luận
Thời cơ nay đã đổi, muôn bề đều thuận lợi : độc lập tự do, thống nhất hoà bình, chính trị xã hội kinh tế, khoa học kĩ thuật dân trí, thảy thảy đều đầy đủ vững vàng ; thời đại lại là thời điện tử, tự động, người máy, truyền thông, tin số và sinh học ; dân nước lại đang vươn mình đổi mới, công ngiệp hoá hiện đại hoá để xây dựng một xã hội công bằng, bình đẳng, bình quyền, văn minh và giàu mạnh mà hơn ba mươi năm qua chưa có một cơ quan chức năng thẩm quyền nào đứng ra gánh vác công cuộc đổi mới chữ quốc ngữ như Đề cương Cách mạng tháng Tám đã có ghi và như Bác Hồ đã mở đường dẫn lối cho đến ngày nhắm mắt, là đáng tiếc !
Mất biết mấy trăm năm để đổi âm bao ngàn từ hán, để tạo dạng bao ngàn từ nôm, ông cha ta quyết tâm chí đã làm nên sự ngiệp. Còn ta, thống nhất nơi bỏ dấu giọng và chỉnh âm đổi dạng chỉ có đôi mươi chữ để thống nhất cách nói đọc viết dùng mà bốn chục năm qua đâu vẫn còn ì đó, không một ai chịu ngồi lại chung bàn, đoàn kết xây dựng, hợp tác khoa học để tìm fương giải quyết, lịch sử sẽ kê tội này trước Tổ quốc, trước Nhân dân !
Thiên kỉ I đổi âm chữ hán, thiên kỉ II tạo dạng chữ nôm, rất mong mươi năm đầu thiên kỉ III chỉnh âm đổi dạng chữ quốc ngữ sẽ hoàn thành trọn vẹn, cộng đồng người dùng chung tiếng việt sẽ có được một hệ chữ việt, chính thức, duy nhất, mẫu mực, nơi bỏ dấu giọng và cách nói đọc viết dùng thống nhất được như lâu nay hằng mong đợi !
Paris 19 - 05 - 05
Ecrire un commentaire - Voir les 0 commentaires
Derniers Commentaires